Năm 2022, vợ chồng anh Khoa, chị Mai mua một căn hộ ở Thành phố Hồ Chí Minh giá 2,4 tỷ đồng. Họ vay ngân hàng 1,2 tỷ đồng, thế chấp chính căn hộ, và mượn thêm của bố mẹ chị Mai 400 triệu đồng, không giấy tờ gì, chỉ chuyển khoản. Tháng 8 năm 2026, hai người ly hôn. Ngân hàng còn dư nợ khoảng 800 triệu đồng. Anh Khoa nói tiền của bố mẹ vợ là "bố mẹ cho", không phải nợ. Chị Mai thì muốn anh nhận trả toàn bộ khoản ngân hàng vì anh là người giữ căn hộ.
Nợ khi ly hôn gây cãi vã không kém tài sản, vì người ta hay nghĩ chia xong cái nhà là xong. Thực ra nợ có luật lệ riêng, và có một điều nhiều người không biết: vợ chồng thỏa thuận với nhau ai trả nợ thì chưa chắc ràng buộc được chủ nợ.
Nợ nào là nợ chung, nợ nào là nợ riêng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 liệt kê các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Thứ nhất, nợ phát sinh từ giao dịch do hai người cùng thỏa thuận xác lập. Thứ hai, nợ do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Thứ ba, nợ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Thứ tư, nợ phát sinh từ việc dùng tài sản riêng để duy trì, phát triển tài sản chung hoặc tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Với các khoản này, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới.
Ngược lại, nợ riêng gồm nợ có trước khi cưới, nợ phát sinh từ tài sản riêng, nợ do một bên tự xác lập không vì nhu cầu của gia đình, và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên. Ví dụ, người chồng lén vay để cá cược trên mạng, hay người vợ tự vay để đầu tư tiền ảo mà không bàn với chồng, thường bị xác định là nợ riêng, trừ khi chứng minh được tiền đó đã dùng cho gia đình.
Câu hỏi quan trọng không phải là ai ký giấy vay, mà là tiền vay để làm gì và đã dùng vào đâu. Một người đứng tên vay nhưng tiền đổ vào mua nhà chung, đóng học phí cho con, thì vẫn có thể là nợ chung.
Nợ ngân hàng còn thế chấp nhà chung
Khoản vay 1,2 tỷ đồng của anh Khoa, chị Mai do cả hai cùng ký với ngân hàng, dùng để mua căn hộ chung. Đây là nợ chung rõ ràng. Luật quy định quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ khi vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
Nghĩa là: dù bản án ghi anh Khoa nhận căn hộ và trả hết nợ, nếu ngân hàng không đồng ý đổi người vay, thì với ngân hàng chị Mai vẫn là người cùng vay. Anh Khoa trả trễ, ngân hàng vẫn có thể đòi chị, và lịch sử tín dụng của chị vẫn có thể bị ảnh hưởng. Chị chỉ có quyền đòi lại anh Khoa phần đã trả thay.
Cách làm an toàn là trước hoặc ngay sau khi ly hôn, làm việc với ngân hàng để chuyển khoản vay sang một người, hoặc người nhận nhà tất toán khoản vay rồi vay lại đứng tên riêng. Nếu ngân hàng chưa chịu, ít nhất bản án hoặc văn bản thỏa thuận cần ghi rõ ai trả, trả bao nhiêu, và bên nhận nhà phải thanh toán chênh lệch cho bên kia sau khi đã trừ dư nợ.
Tiền mượn người thân không giấy tờ
Khoản 400 triệu đồng của bố mẹ chị Mai là chỗ dễ vỡ nhất. Anh Khoa nói bố mẹ cho. Nếu là cho thì đó là tài sản được tặng, chung hay riêng tùy ý người cho; nếu là vay thì là nợ chung phải trả. Bên nào khẳng định điều gì thì phải đưa ra chứng cứ cho điều đó.
Chứng cứ có thể là nội dung chuyển khoản, tin nhắn hỏi mượn và hẹn trả, lời của người làm chứng, việc đã trả lãi hoặc trả bớt một phần. Chuyển khoản ghi "cho con mua nhà" thì nghiêng về tặng cho; có tin nhắn "con mượn, cuối năm con trả" thì nghiêng về vay.
Trên thực tế, bố mẹ một bên muốn đòi khoản này thường tham gia vụ ly hôn với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hoặc khởi kiện thành một vụ riêng. Nếu không ai yêu cầu, Tòa không tự giải quyết khoản nợ đó. Đừng bất ngờ nếu ly hôn xong, bạn lại nhận giấy triệu tập trong một vụ đòi nợ của chính người thân bên kia.
Những ngộ nhận thường gặp
Ngộ nhận thứ nhất: "Ai giữ tài sản thì người đó gánh hết nợ." Không có quy tắc nào như vậy. Tòa chia tài sản chung theo nguyên tắc chia đôi có tính đến hoàn cảnh, công sức đóng góp và lỗi của mỗi bên, và khoản nợ chung được tính toán cùng với khối tài sản đó. Ai trả bao nhiêu phụ thuộc vào cách chia cụ thể, không mặc nhiên dồn hết cho người giữ nhà.
Ngộ nhận thứ hai: "Nợ đứng tên ai người đó trả." Như đã nói, tiền dùng vào đâu mới là điều quyết định.
Ngộ nhận thứ ba: "Ly hôn xong là hết dính dáng." Với chủ nợ, nghĩa vụ chung vẫn còn nguyên. Đây là lý do nên xử lý dứt điểm với ngân hàng thay vì chỉ ghi vào bản án.
Ngộ nhận thứ tư: "Dựng thêm một khoản nợ thì đỡ phải chia." Có người nhờ bạn bè viết giấy nhận nợ khống để giảm phần tài sản phải chia cho bên kia. Chuyện này Tòa gặp không ít; khi đối chất về dòng tiền, khoản nợ dựng lên thường lộ ra, và người làm có thể gặp rắc rối lớn hơn nhiều so với phần tiền định giữ.
Nên chuẩn bị gì, cần nhớ gì
Bạn lập một bảng kê nợ, mỗi khoản ghi rõ: ai vay, vay của ai, bao nhiêu, ngày nào, đã trả bao nhiêu, còn bao nhiêu, và tiền dùng vào việc gì. Kèm theo là hợp đồng tín dụng, sao kê trả nợ hằng tháng, tin nhắn, chuyển khoản. Nếu được, xin ngân hàng xác nhận dư nợ ở thời điểm gần ngày xét xử.
Ba điều cần nhớ. Một, nợ chung hay riêng tùy vào việc vay để làm gì, không tùy vào ai ký. Hai, thỏa thuận giữa vợ chồng không ràng buộc ngân hàng nếu ngân hàng không đồng ý; hãy xử lý với chủ nợ cho dứt điểm. Ba, khoản tiền của người thân phải rõ là cho hay là vay; làm rõ càng sớm, càng tránh được một vụ kiện sau ly hôn.
Hỏi đáp nhanh
Vợ tự vay nợ không bàn với chồng thì khi ly hôn chồng có phải trả không?
Tùy tiền vay dùng vào việc gì. Nếu dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình thì là nợ chung; nếu vay vì việc riêng, không vì gia đình thì thường là nợ riêng của người vay.
Ly hôn rồi ngân hàng có đòi được người không giữ nhà không?
Có thể. Nghĩa vụ chung với ngân hàng vẫn còn sau ly hôn nếu ngân hàng không đồng ý thay đổi người vay. Người đã trả thay có quyền đòi lại bên kia theo bản án hoặc thỏa thuận.
Bố mẹ chuyển tiền cho mua nhà, giờ ly hôn có đòi lại được không?
Đòi được nếu chứng minh đó là khoản vay. Nếu là tặng cho thì không đòi lại như đòi nợ. Tin nhắn, nội dung chuyển khoản và việc đã trả lãi là những chứng cứ quan trọng.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.